Kính thưa quý cô chú, anh chị và các bạn!
Nếu
nhắc đến Quảng Trị, nhiều người thường nhớ ngay đến vùng đất anh hùng gắn với
lịch sử, với những địa danh như Sông Bến Hải, Chiến tranh Việt
Nam hay Thành Cổ Quảng Trị. Nhưng bên cạnh chiều sâu lịch sử ấy,
Quảng Trị còn sở hữu một nền ẩm thực rất riêng – mộc mạc, chân chất nhưng đậm
đà như chính con người nơi đây.
Ẩm thực
Quảng Trị không cầu kỳ như cung đình Huế, cũng không quá phóng khoáng như miền
Nam, mà mang nét dung dị của miền Trung: nguyên liệu gần gũi, vị đậm, thiên về
cay – mặn – thơm, phản ánh cuộc sống cần cù trên vùng đất gió Lào và cát trắng.
Người
Quảng Trị dù có đi đâu, về đâu, mỗi khi nhắc đến ẩm thực quê nhà đều cảm thấy
bồi hồi, thương nhớ. Những món ăn bình dị, gắn liền với từng tên làng, tên đất
như: bún hến Mai Xá, cháo bột Hải Lăng, bánh ướt Phương Lang, gỏi tép Bàu
Trạng, nem chợ Sãi…đã gắn bó mật thiết với cuộc sống của người dân quê để tạo
nên nét văn hóa ẩm thực riêng có của đất và người Quảng Trị.
1. Đặc
Trưng Của Ẩm Thực Quảng Trị
Ẩm thực
Quảng Trị hình thành từ điều kiện tự nhiên đặc biệt:
- Phía Tây có núi rừng, nơi sinh sống lâu đời
của đồng bào dân tộc.
- Đồng bằng hẹp nhưng màu mỡ.
- Phía Đông giáp biển với nguồn hải sản
phong phú.
Chính
vì vậy, món ăn Quảng Trị hội tụ đủ ba yếu tố:
- Hương vị miền núi
- Đặc sản đồng bằng
- Tinh hoa biển cả
Người
Quảng Trị có câu:
“Ăn cay
cho ấm lòng, ăn mặn để nhớ quê.”
Vì vậy
nhiều món nơi đây sử dụng khá nhiều tiêu, ớt, nước mắm và các loại gia vị tự
nhiên.
2. Bún
Hến Mai Xá – Tinh Hoa Dân Dã
Bún hến
Mai Xá
Đây
được xem là một trong những món ăn tiêu biểu nhất của Quảng Trị.
Món ăn
xuất phát từ làng Mai Xá – vùng ven sông nơi người dân khai thác hến tự nhiên.
Cách
chế biến:
Điểm
đặc biệt:
Đậm đà bún hến làng Mai Xá
Là niềm tự hào của ẩm thực quê
nhà khi lọt Top 100 món ăn ẩm thực, đặc sản tiêu biểu Việt Nam theo bộ tiêu chí
công bố giá trị ẩm thực, đặc sản Việt Nam của Tổ chức Kỷ lục Việt Nam, bún hến
làng Mai Xá, thuộc xã Gio Mai, huyện Gio Linh không chỉ chinh phục khẩu vị người
dân địa phương mà còn được nhiều du khách phương xa tìm đến thưởng thức.
Điểm nhấn tạo nên hồn cốt của món bún hến Mai Xá chính là con chắt
chắt, một loại sinh vật thuộc họ hến, có vỏ màu đen sậm, giàu chất đạm, bổ dưỡng
được người dân Mai Xá cào lên từ đáy sông Hiếu, sông Thạch Hãn. Để chế biến món
bún hến Mai Xá thì đầu tiên phải cho chắt chắt vào nồi luộc chín để chắt chắt mở
vỏ ra, sau đó dùng đũa lớn khuấy liên tục để ruột chắt chắt tách khỏi vỏ trước
lúc đưa ra đãi tách hết mặt (ruột) chắt chắt.
Phần nước luộc chắt chắt làm nước
dùng. Phi thơm hành, ném, cho mặt chắt chắt vào xào cho đến khi săn lại, nêm
các loại gia vị cho thật vừa miệng. Tô bún hến Mai Xá gồm có bún tươi, hến xào
và trên cùng là các loại rau thơm. Khi ăn, thực khách có thể chan thêm nước
dùng ít hoặc nhiều tùy sở thích. Món bún hến Mai Xá sẽ ngon hơn khi ăn kèm chút
nước mắm Cửa Việt, ớt, tỏi nhưng ngon nhất vẫn là muối hột giã với ớt xanh, gừng
tươi.
Nhiều người sau khi thưởng thức
món bún hến Mai Xá đã cùng có chung cảm nhận, món bún hến làng Mai Xá không chỉ
gói trọn được nét ẩm thực dung dị, chân chất được kết tinh trong cuộc sống thường
ngày của người dân Quảng Trị, mà còn thể hiện bản sắc văn hóa được người dân địa
phương trân trọng, lưu truyền và gìn giữ.
3. Bánh
Khoái Quảng Trị – Giòn Thơm Đậm Vị
Bánh
khoái Quảng Trị
Nghe
tên “bánh khoái”, nhiều du khách thường nhầm với bánh xèo.
Tuy
nhiên bánh khoái có sự khác biệt:
- Bột dày hơn.
- Vỏ giòn nhưng vẫn mềm bên trong.
- Nhân gồm tôm, thịt, giá đỗ.
Điểm
quyết định nằm ở nước lèo.
Nước
chấm được chế biến từ:
- gan heo,
- mè rang,
- đậu phộng,
- gia vị truyền thống.
Khi ăn
cuốn cùng rau sống tạo nên vị béo – thơm – giòn rất đặc trưng.
4. Cháo
Vạc Giường – Món Ăn Gắn Với Đời Sống Lao Động
Cháo
vạc giường
Tên gọi
khá lạ nhưng lại mang dấu ấn dân gian.
“Vạc
giường” là những miếng bột nhỏ được cắt dài giống chân giường.
Món gồm:
- nước dùng nấu từ xương,
- bột gạo cán mỏng,
- tôm hoặc cá lóc.
Cháo
không quá đặc mà sánh nhẹ.
Ngày
xưa đây là món ăn phổ biến của người dân sau những buổi làm đồng hoặc đi biển.
5. Thịt
Trâu Lá Trơng – Hương Vị Vùng Gò Đồi
Thịt
trâu lá trơng
Đây là
món ăn rất độc đáo của miền Tây Quảng Trị.
Lá
trơng là gì?
Đó là
loại lá rừng có mùi thơm đặc biệt.
Người
dân:
- thái mỏng thịt trâu,
- xào nhanh trên lửa lớn,
- cho lá trơng vào cuối cùng.
Thịt
mềm, thơm và có vị hơi the.
Món này
thường xuất hiện trong những dịp tiếp khách quý.
6. Bánh
Ướt Phương Lang – Tinh Tế Từ Hạt Gạo
Bánh
ướt Phương Lang
Làng
Phương Lang nổi tiếng với nghề làm bánh truyền thống.
Bánh:
- tráng mỏng,
- mềm nhưng không nát,
- ăn cùng thịt nướng, chả hoặc nước mắm.
Người
dân thường nói:
“Đến
Quảng Trị mà chưa ăn bánh ướt Phương Lang thì xem như chưa cảm nhận hết vị quê.”
7. Hải
Sản Quảng Trị – Quà Tặng Của Biển
Với hơn
75 km đường bờ biển, Quảng Trị có nguồn hải sản rất phong phú.
Một số
món nổi bật:
- Mực một nắng
- Cá hấp cuốn bánh tráng
- Gỏi cá mai
- Tôm nướng
Các
vùng biển như Cửa Tùng và Cửa Việt nổi tiếng với hải sản
tươi, chế biến đơn giản để giữ nguyên vị ngọt tự nhiên.
8. Cà
Phê Và Nét Văn Hóa Ẩm Thực Người Quảng Trị
Người Quảng
Trị ăn uống không quá cầu kỳ.
Bữa cơm
truyền thống thường có:
- cá kho,
- rau luộc,
- nước mắm nguyên chất,
- bát canh nóng.
Tinh
thần của ẩm thực nơi đây là:
“Ít
nguyên liệu – nhiều tình cảm.”
Mỗi món
ăn đều phản ánh tính cách người Quảng Trị:
- chịu thương chịu khó,
- chân thành,
- mộc mạc nhưng sâu sắc.
9. Đặc sản nem lụi chợ Sãi
Thực khách đã từng biết tới món
nem chua được làm từ thịt heo xay, bì thái chỉ và thính cùng các gia vị quen
thuộc. Nhưng nay cũng với những nguyên liệu ấy, người dân xã Triệu Thành, huyện
Triệu Phong lại cho ra đời món nem lụi mang những nét riêng có của ẩm thực địa
phương để trở thành đặc sản lọt vào Top 100 đặc sản, món ăn, sản vật Việt Nam
được Tổ chức Kỷ lục Việt Nam và Tổ chức Top Việt Nam công bố năm 2020.
Rất đơn giản trong cách chế biến
nhưng món nem lụi nướng đã khiến bao thực khách phải trầm trồ khi thưởng thức.
Để làm được que nem lụi có độ dai ngon, nguyên liệu phải là thịt heo còn tươi
được xay thật nhuyễn và quết nhiều lần như làm giò. Bì heo được thái chỉ nhỏ rồi
cùng với các loại gia vị như đường, tiêu, bột ngọt…trộn lẫn với thịt đã xay. Nặn
thịt thành từng viên tròn hoặc dài bằng ngón tay rồi xâu vào que tre nhỏ đã được
vót nhọn, sau đó đem nướng trên bếp than rực hồng.
Người nướng có kinh nghiệm có khi chỉ cần nhìn màu sắc, ngửi mùi
thơm của món ăn là đã biết được sản phẩm đã đạt chất lượng hay không chứ không
cần nếm thử. Mỗi que nem đã nướng xong được gọi là “một lụi”.
Ăn nem lụi là kiểu ăn “đa vị”
nên phải được ăn đúng cách mới cảm nhận được hết cái ngon, cái tinh túy của món
ăn. Ở Quảng Trị, nem lụi được ăn kèm với bánh tráng cùng hỗn hợp nhiều loại rau
sống như dưa chuột, chuối chát, xoài xanh thái lát mỏng, gỏi đu đủ chua ngọt,
rau thơm…
Khi ăn, que nem lụi sẽ được đặt vào giữa miếng bánh tráng mỏng,
nhẹ nhàng rút que tre ra khỏi miếng thịt rồi lần lượt xếp các loại rau ăn kèm
theo ý thích, cuốn tấm bánh tránh lại rồi chấm ngập với nước lèo, một loại nước
chấm được chế biến từ hỗn hợp các loại thực phẩm như gan heo, đậu phụng, mè trắng,
đậu tương, dứa… có vị béo ngậy, ngọt bùi rất đặc trưng.
Là một trong những món ăn lâu đời của người dân địa phương, nem
lụi chợ Sãi luôn có một sức hấp dẫn đặc biệt đối với thực khách và trở thành đặc
sản mà rất nhiều du khách muốn khám phá, trải nghiệm khi có dịp đến với mảnh đất
Quảng Trị.
10. Bánh ướt Phương Lang gợi nhớ
vị quê
Nhắc đến Phương Lang, người ta
không chỉ nhớ về ngôi làng với khung cảnh đẹp yên bình ở xã Hải Ba, huyện Hải
Lăng mà còn nhớ về món bánh ướt ngon nức tiếng-bánh ướt Phương Lang.
Nguyên liệu chính để làm ra bánh
ướt Phương Lang chính là gạo. Những hạt gạo được trồng trên chính đồng đất quê
nhà đã cho ra đời hương vị bánh đặc trưng, không lẫn với bất kỳ nơi đâu. Điều
làm nên sự khác biệt cho món bánh nơi đây chính là kỹ thuật tráng bánh. Bánh được
tráng cất thủy trên một lớp vải có độ dày vừa phải, đến khi chín là có thể vớt
ra xếp chồng lên nhau. Điều quan trọng là thợ tráng bánh phải khéo tay và đầy
kinh nghiệm để biết lúc nào là bánh vừa chín tới, không quá dày hay quá mỏng.
Bánh ướt Phương Lang dùng nóng
hay nguội đều ngon. Món ăn kèm không thể thiếu đó chính là thịt heo ba chỉ, rau
sống và loại nước chấm gia truyền được pha từ nước mắm nguyên chất với đậu phụng,
ớt, tỏi…Gắp một miếng bánh ướt dẻo mềm kèm thêm miếng thịt heo thái mỏng, nhón
thêm ít rau sống và chấm vào bát nước chấm sóng sánh, thực khách sẽ cảm nhận được
vị béo, bùi, thơm ngon, cay nồng khó cưỡng. Đơn giản nhưng không đơn điệu, món
bánh ướt ở làng nghề truyền thống Phương Lang sẽ là đặc sản độc đáo, giúp du
khách có thêm nhiều ấn tượng tốt đẹp khi đến với mảnh đất Quảng Trị thân thương.
11. Cá Rô đồng chiên xù - chiên giòn, chắm nước mắm Gừng . Món
ăn ngon khó tả, thấm thía .
Ngày thơ bé, mùa lúa làm đòng là mùa mà những đứa con nít lên 8,
lên 10 như chúng tôi thích nhất. Tuổi thơ tôi trôi qua bình lặng nhưng đầy niềm
vui trong mùi khói rơm rạ, những buổi ví trâu ra đồng rồi cùng nhau be nước tát
cá.
Lúa trổ bông khi ruộng bắt đầu cạn bớt nước. Ruộng lúa ở vùng
quê nghèo miền Trung thường nhỏ, xếp chênh chếch từ trên xuống dưới. Nơi các
ngõ nước từ đám ruộng này chảy xuống đám ruộng khác là nơi cư trú của rất nhiều
cá rô đồng, chỉ cần dùng lờ hoặc đem gàu, rổ ra các vũng nước này xúc một lát
thể nào cũng có cá đem về.
Đối với những ruộng lúa nhiều nước, chúng tôi rủ nhau đi câu.
Bao giờ cũng vậy, trong thời gian đợi trâu no cỏ là bọn trẻ tranh thủ đào giun
đất, bắt cào cào để làm mồi câu. Khi trâu no cỏ, mỗi đứa cột trâu lại gần mấy
bóng cây lớn ở giếng nước ông Định đầu xóm cho chúng uống nước rồi cùng nhau lội
xuống ruộng bắt cá. Cứ như vậy, đến khi ra về giỏ đứa nào cũng lúc nhúc những
cá là cá.
Cá rô đồng có thể dùng chế biến được nhiều món như kho tương, nấu
canh cải, kho gừng… Nhưng với tôi, ngoài việc thỉnh thoảng cùng nhau hì hụi đem
đốt rơm để nướng cá rồi mỗi đứa một xâu cá chia nhau ăn, thì vẫn không món nào
qua được món cá rô chiên giòn chấm nước mắm gừng đặc trưng do mẹ pha chế. Món
ăn vừa chế biến đơn giản, không cầu kỳ, phức tạp, vừa dân dã, chân chất đầy
tình quê.
Cá rô vào tháng 8, tháng 9 là ngon nhất, ngọt thịt và béo tròn.
Cá rô khi còn sống ngúng nguẩy rất hăng nên thông thường, trước khi làm vảy, mẹ
ngâm lũ cá sống vào nước muối khoảng hơn 20 phút “cho cá lừ đừ, khi chiên sẽ có
vị mặn đậm đà hơn”. Cá được mẹ làm sạch ruột, để nguyên vảy, xếp vào rổ cho ráo
nước. Sau đó, mẹ bắt chảo dầu lên bếp, đợi dầu nóng là bỏ cá vào chiên cho đến
lúc chúng săn lại, vàng ngậy, thơm lừng cả chái bếp nhỏ. Cá chiên xong bày ra
đĩa, rắc lên ít rau thơm, rau răm.
Những lúc mẹ chiên cá, nhiệm vụ của tôi là ra hè hái mấy trái ớt,
tiện thể hái luôn trái chanh và nhổ bụi gừng đem vào để mẹ pha nước chấm. Gừng
rửa sạch, lột vỏ, cắt lát rồi cho vào cối giã nhỏ, sau đó đâm cùng tỏi và ớt đến
nhuyễn, đổ ra chén rồi thêm đường, bột ngọt vào, pha nước mắm vừa đủ, vắt miếng
chanh nữa là thành một chén nước chấm ngon hết ý.
Có ăn cá rô chiên giòn kèm dĩa rau luộc mộc mạc, cùng với chén
cơm nóng hổi trong những chiều mưa mới cảm nhận hết được hương vị của tình đất,
tình người quê hương. Vị cá rô ngọt mềm hòa quyện với cay nồng nàn của gừng, của
ớt, vị thơm của tép tỏi. Bữa cơm tuy đơn sơ, đạm bạc nhưng mùi vị của nó đã trở
thành ký ức đẹp mỗi lần tìm lại tuổi thơ của những người con xa quê.
12. Bánh Tu Huýt – Nét ẩm thực Quảng Trị.
Tôi còn nhớ lúc nhỏ tôi và cả mấy đứa trẻ trong xóm rất thích
món bánh này. Những chiếc bánh vừa thơm mùi khoai vừa dẻo dẻo của bột sắn với vị
ngọt dịu của đường là một món quà đáng quý của tuổi thơ.
Bánh Tu Huýt ở Quảng Trị thường được làm từ bột sắn, hoặc
bột khoai nhưng để có những chiếc bánh ngon thì trộn lẫn cả 2 thứ bột này lại sẽ
tạo nên một hương vị lạ hơn.
Để làm món bánh này được ngon phải lựa chọn từ những củ sắn –
khoai lang ngon nhất, không bị sâu, cạo bỏ vỏ lụa bên ngoài, rửa sạch, xắt lát
phơi khô bảo quản trong những bao nilon để tránh ẩm mốc, thường để dành đến mùa
mưa đem ra sử dụng (loại khoai khô này ở Quảng Trị gọi là Khoai Rứa ở một số
nơi khác gọi là Khoai Xéo). Khoai, Sắn lát khô được xay thành bột mịn, khi làm
bánh bột sắn làm cho bánh ngon dẻo, Khoai có vị ngọt và thơm. Theo kinh nghiệm
của những người ở quê thì đem hai thứ bột này trỗn lẫn với nhau thì bánh sẽ
ngon hơn.
Sau khi đã có bột, đem bột trộn với đường ăn rồi nhào thật dẻo để
bột và đường hòa tan vào nhau. Một số người muốn cầu kỳ thường trộn bột thêm với
một ít đậu đen đã luộc chín, có khi là lạc hoặc đậu đỏ để bánh hấp dẫn hơn.
Dùng bột đã nhào nắm vào chiếc đũa. Nắm sao cho từng chiếc bánh
thật đều, thật chặt. Khi cái bánh mịn và bám chắc liền rút chiếc đũa ra, tạo
thành một lỗ thông hơi giữa bánh. Sau cùng xếp đứng bánh trong nồi hấp, đậy kín
vung và bắt đầu nổi lửa. khi làm ít thì xếp bánh vào nồi cơm sau khi cạn nước,
hấp bánh cùng với cơm, khi ăn sẽ rất ngon .
Bánh Tu Huýt (Tù Huýt) Bánh chín nhẹ nhàng dỡ ra từng chiếc, những
cái bánh màu nâu, mịn màng đong đầy mùi thơm của khoai, đậu, dẻo dẻo của sắn và
ngọt dịu của đường.
Cắn ngang cái bánh nóng hổi ăn rất thú vị. Khi ăn bánh nóng, người
ta thường thổi cho nguội vô tinh thổi vào lỗ của chiếc bánh phát ra âm thanh giống
như những chiếc tu huýt được nặn bằng đất sét mà ngày xưa thuở nhỏ ta thường
chơi, có lẽ cũng từ đó mà có tên là “Bánh Tu Huýt” . Ai đã từng ăn bánh này mỗi
lần nhắc đến “Bánh tu huýt – tù huýt” hẳn không thể quên một thời, những ngày
lam lũ tuổi thơ, ký ức tuổi thơ chợt hiện về
13. Bánh Ít Lá Gai
Tôi thường nghe bà nội mắng yêu những đứa cháu khi chúng tham ăn
rằng “miếng ăn là miếng xấu”, lại có câu tục ngữ “miếng ngon nhớ lâu, đòn đau
nhớ đời”. Cái ăn cái uống chỉ là nhu cầu thiết yếu để sống của con người, nhưng
một khi đã đi vào ca dao tục ngữ thì nó trở thành lời dạy dỗ khuyên răn. Rộng
hơn, đối với người đi xa thì nó thành ý niệm quê hương thổn thức trong từng nhịp
thở.
Người ta thương nhau trót lưỡi đầu môi, yêu nhau bằng lời nói
chưa đủ mà phải nếm được bằng môi, được cắn vào nhau để tận hưởng. Trên chiếc
môi xinh ấy từ những ngày rất nhỏ tôi đã được tẩm một thứ hương vị quà bánh quê
mẹ, nên khi em cắn vào thì cũng như đã thấu được tấm lòng quê hương. Hôm nay
tôi sẽ dẫn em về Quảng Trị, cùng nếm thứ bánh ít nhỏ nhoi. Nhỏ nhưng ngon lắm!
Nhỏ nhưng trong đó đã gói trọn tất cả những ngọt-bùi-đắng-cay, cả tấm lòng quê
hương em ạ!
Bóc vỏ chiếc bánh ca dao
Có một câu ca dao miền trung thế này:
“muốn ăn bánh ít lá gai
lấy chồng Bình Định sợ dài đường đi.”
Câu ca dao này của Bình Định nhưng lại có rất nhiều dị bản, chỉ
cần thay tên địa danh vào là có ngay câu của quê hương mình. Tất nhiên, tên
thay vào đó phải có hai chữ và có thanh trắc ở chữ thứ hai để hợp với niêm luật
lục bát. Cái tên Quảng Trị ai cũng bảo là nặng, nặng như giọng nói miền trung
trọ trẹ, nhưng lại gặp may trong trường hợp này. Và tôi lại đọc ca dao quê mình
“muốn ăn bánh ít lá gai
lấy chồng Quảng Trị sợ dài đường đi.”
Tôi đồ rằng câu ca dao dị bản này còn hay hơn câu nguyên gốc, vì
chữ “Trị” lại hợp vần với chữ “đi” ở cuối nên nó làm cho vĩ
thanh của câu được ngân lâu hơn, cái sự xa xôi về đường đi vì thế mà cũng được
kéo giãn ra thêm.
“Lấy chồng” và “làm dâu” cùng một trường nghĩa, nhưng nếu hoán vị
một tí thì câu ca dao lại thành ra một lời keo son thắm thiết. Lấy chồng chỉ là
một việc của người con gái đến tuổi cập kê, nhưng làm dâu lại là bổn phận lâu
dài của người phụ nữ sau khi lấy chồng. Nên nếu đọc “muốn ăn bánh ít lá
gai/ làm dâu Quảng Trị sợ dài đường đi” thì lời nói ấy càng trở nên ý
nghĩa hơn nữa. Nhưng em đừng có sợ, một liều ba bảy cũng liều/ đã thương sao ngại
đường nhiều bước đi. Có xa ngái mấy mà ăn một miếng bánh ít Quảng Trị cũng đáng
lắm! Không thế mà ngày trước Chúa Sãi Nguyễn Phúc Nguyên đã đóng dinh ở Ái Tử –
Quảng Trị, cho lập một chợ ở ngã ba sông Thạch Hãn – Vĩnh Định, sau này người
dân đặt tên là chợ Sãi, và chợ Sãi cũng là nơi có nghề bánh ít ngon nức tiếng.
Tại sao câu ca dao nói là “lấy chồng/ làm dâu” mà không là “lấy
vợ/ làm chồng”?
Thứ nhất, về mặt chắt thanh chiết tự ta có thể bác bỏ ngay cặp từ
này. Nếu đặt “lấy vợ” vào thì chữ “vợ” là thanh trắc sẽ làm sai luật câu lục
bát. Nhịp thơ lục bát này là nhịp chẵn đều 2/2 nên các chữ ở vị trí chẵn nhất
thiết không được sai luật về thanh điệu. Ca dao không có phá cách/cách tân nên
dù có muốn tạo dị bản cũng phải tuân thủ niêm luật. Đấy là chắt thanh.
Về chiết tự, nếu đặt chữ “lấy vợ” vào thì câu này lại vụng
về nghĩa. Chữ “đi” trong câu ca dao vừa có nghĩa “đi tới nhà người
ta”, vừa có nghĩa “đi về thăm nhà mình”, tức ”đi” là “đi lại”. Trong
truyền thống dân tộc ta “con gái xuất giá tòng phu”, lấy chồng phải về ở nhà chồng,
có muốn ở riêng hai vợ chồng thì cũng phải sống chung trong gia đình một thời
gian cho đến khi sinh con đầu lòng. Vậy nên đời sống vợ chồng son thường trải
qua trong gian đoạn đang ở chung với bố mẹ chồng. Điều này giải thích tại sao
khi đi lấy chồng các cô gái hay khóc, lấy chồng càng xa khóc càng nhiều: bởi sợ
khó về được để thăm cha mẹ đẻ. Ngược lại, con trai đi ở rễ rất ít, thường chỉ đối
với những ai làm rễ ở các nhà không có nam tử thôi. Mà có đi làm rễ thì đàn ông
rắn rỏi khoẻ chân, muốn về nhà mình khi nào chả được. Thế nên nếu nói “làm
chồng Quảng Trị đường dài khó đi” thì rất buồn cười!
Thứ hai, về mặt xét nghĩa toàn bộ cặp câu ca dao, đưa chiếc bánh
ít vào thì mới thấy cái ẩn ý của tác giả dân gian xưa thật đáo để. Bánh ít lá
gai là loại bánh ngọt. Có nhiều nơi làm bánh ít nhân thịt đậu đỗ hoặc nấm thì
bánh đó không làm từ lá gai mà từ bột nếp. Nhân bánh ít lá gai thường là đậu
xanh bóc vỏ, nhân được trộn với đường nên khi bánh chín thì mật đường đã ứa ra
toàn lớp lá gai nhồi. Bánh ít lá gai ngọt là vì thế. Chỉ con gái đàn bà thì mới
thích đồ ngọt, trừ những khi đang mang thai là “có chửa thèm chua” thôi! Đàn
ông con trai vốn trời sinh tính khí mệnh hoả, thích rượu chè, mà người thích rượu
lại rất kén các món ngọt. Chính vì thế mà câu ca dao này phải dành riêng cho
phái nữ.
Cũng như chiếc bánh ít đó tôi sẽ dành riêng để mời em mà không mời
bạn. Các o các chị của tôi cũng không thể mời được người họ thương về Quảng Trị
đâu, em ạ!
Về Quảng Trị làm bánh ít đi em !
Tôi đã lần theo lối sỏi truyền thống dân tộc, đòi cho được câu
ca dao để mời em về Quảng Trị. Bây giờ thì hãy ngồi xuống đây, cởi chiếc áo
choàng cho mát vì xứ gió lào cát trắng này khô khốc lắm, rồi cùng bắt tay vào
làm thử chiếc bánh quê hương.
Trước hết phải ra ngoài vườn hái lá gai. Nhà tôi có con mương chảy
lau lách bao vây một phía nên ở dọc lối ấy cây lá gai mọc lên rất tốt. Cây mọc
lên thành dãy như một hàng rào cố hữu che chắn khuôn viên. Mà có cái lạ, tuy đất
quê mình khắc khổ vậy, mùa đông mưa dầm lũ ngập đồng, mùa hè nắng cháy thiêu trụi
cây, nhưng riêng lá gai thì vẫn xanh vẫn tươi quanh năm. Vậy nên em có về quê
tôi thì không phải lo chết thèm bánh ít lá gai một ngày nào cả.
Lá gai có màu xanh non, nhìn vào như thể nó sẽ không bao giờ già
đi. Lá cũng như em vậy đó, ăn chiếc bánh này vào sẽ trẻ xinh mãi. Chiếc lá gai
trông hệt như hình trái tim của đôi lứa yêu nhau, hay hệt như một ngọn trầu. Phải
vì điều này mà bánh ít luôn có trong những dịp cưới hỏi(?). Tôi mời em câu ca
dao có chiếc bánh ít cũng với ý niệm se duyên trái tim ấy.
Nhớ ngày trước tôi còn học ở Huế, mỗi lần về nhà là mạ lại làm
bánh ít để tôi mang vào biếu chủ nhà trọ, bạn bè. Ông nội thì tập nói cho tôi,
rằng phải thưa lời “đây là cây nhà lá vườn, ba mạ nhủ con mang vào biếu để
hai bác thử cho vui!”. Ừ! Thì đúng là cây nhà lá vườn thật đấy, nhưng mà ăn
bánh ít Quảng Trị không thể ăn cho vui được, ăn một miếng là thèm thuồng rồi nhớ
suốt đời. Vậy nên tôi vào thưa với nhà chủ “đây là cây nhà lá vườn, ba mạ
nhủ con mang vào biếu để hai bác ăn cho biết!”. Cái chữ “cho biết” này nó thâm
thuý hơn, biết tức là sẽ nhớ, sẽ không bao giờ quên.
Mạ tôi còn gói riêng một đùm, bảo cái này dành cho người yêu. Mặc
dù tôi đã là sinh viên, như ngày trước gọi là cậu tú rồi đấy, thế nhưng nghe mạ
nói thì cũng phải cười trong sự ngượng ngùng. Nhưng khi đứng trước em với đùm
bánh ít ấy thì lại rất mạnh dạn, hình như bánh ít đã giấu giúp tôi một cái ngượng
biết yêu. Còn bạn bè khi ăn thử một chiếc bánh thì khen lấy khen để, cứ bảo
“bánh ít Quảng Trị cũng ngon hệt….con trai xứ đó vậy!”. Sau đó lần nào trước
khi ra nhà bạn bè cũng đều nhắc nhủ phải mang bằng được bánh ít vào làm quà. Chỉ
thế thôi!
Lá gai hái từ ngoài vườn đem vào được rửa sạch bằng nước giếng
vài lần, vớt ra cho lên một chiếc rổ thưa để ráo nước. Trong lúc đó đun một nồi
nước sôi bằng chiếc soong to. Mạ tôi nói đun nước luộc lá gai thì phải đun bằng
rơm rạ vì lửa rơm có mùi khói đồng, mùi khói ấy sẽ lèn vào lá làm cho chiếc
bánh đậm hương vị quê nhà hơn. Tôi thích nhất được vào bếp ngồi đun rơm với mạ
trong một ngày đông hơi lạnh bùi bùi, khói lên quyện lấy mái nhà tranh những
ngày còn nghèo khiến tôi thương chi lạ. Nhìn ánh lửa cháy ngặt nghèo vì thứ rơm
ỉu năm đói, cùng với khói lên cay cay cứ như muốn làm tôi trào nước mắt. Ngồi
đun nước luộc lá gai tôi cảm nhận được sự đắng cay đã đi vào trong tiền thân
chiếc bánh ít ấy.
Nước sôi, cho lá vào luộc qua (tiếng Quảng Trị gọi là trụng)
sao cho lá đừng chín nát đen. Sau đó vớt ra để trên chiếc rổ thưa hong một lúc
cho ráo nước rồi dùng tay vắt vắt những nắm lá và cho vào cối đá. Công việc tiếp
theo là quết lá. Tay cầm chày giã cối cho đến bao giờ lá nhuyễn ra
thành một thứ bột quết nước thì cho thêm bột nếp vào, cùng với một ít đường và
tiếp tục nện chày, gọi là lèn bột. Giã một lúc thì phải dùng vá (môi)
đảo đều khối quết trong cối để tất cả lá và bột đều nhau, không có chỗ này nhuyễn
chỗ kia xơ.
Nhân bánh được làm từ đậu xanh bóc vỏ đem nấu cho chín nhừ ra. Để
nguội, dùng đũa quấy cho đậu nát mịn rồi trộn đường vào cho ngọt và rắc dầu chuối
vào cho thơm. Ngửi cái mùi đậu xanh được trộn dầu chuối là đã ứa nước miếng
thèm ăn. Nhưng em chớ có vọc tay vào thử nhuỵ nghe chưa, vì mạ rất kỵ chuyện
đó. Mạ nói con trai thử còn được, chứ con gái thử nhuỵ là bánh hỏng liền. Có lẽ
đó chỉ là một quan niệm của dân gian ta ngụ ý con gái phải giữ ý giữ tứ, không
ăn trước ngồi tót sỗ sàng mà thôi!
Bột bánh quết xong vắt ra từng mẩu nhỏ, nắn dẹt ra rồi dùng thìa
cho nhân đậu xanh vào giữa, vo lại thành một khối tròn tròn bằng quả cau. Từ
chiếc lá gai-hình trái tim, nắn ra thành chiếc bánh-quả cau đã là một câu chuyện
tình mang đậm tính dân tộc. Những cái lăn tay xoa bánh sau khi vắt lại cũng điệu
nghệ lắm! Tôi từng nhìn những bàn tay của các chị xoa bánh và nhận ra được nết
dịu dàng mềm mại của người con gái thôn quê.
Bánh ít được gói bằng lá chuối, thứ lá thân thuộc rất đỗi quê
nhà. Lá rọc ngoài nương vào được thấm khăn nước lau sạch, cắt thành từng miếng
tròn cỡ như chiếc đĩa. Đặt mẩu bánh sau khi bọc nhân vào giữa miếng lá đó, cuộn
lá theo chiều sao cho các sứa lá không bị gẫy để lá không rách. Bẻ quặt hai đầu
xuống và gập lại, dùng một sợi dây chạc chuối buộc quanh để giữ nếp
lá đã gói. Chiếc bánh lúc này ú lên thành một khối hình chóp tứ giác giống hình
một nóc nhà bốn mái. Ngày trước ông bà ta làm nhà thường dựng nóc bốn mái vì với
kiểu kiến trúc ấy thì có thể qua mùa mưa bão an lành. Cũng với kiểu hình bốn
mái ấy thì chiếc bánh ít không bị dẹt hoặc méo mó đi khi hấp hơi.
Hấp bánh là kiểu chưng cách thuỷ. Ở nhà quê thường đặt ba cái
chén vào đáy soong to, sau đó gác lên trên một chiếc nan liếp đan thưa rồi sắp
bánh vào. Nước đổ vào chỉ vừa đủ lấy hơi xông, nhất thiết không được chạm tới
đáy liếp. Đậy nắp nồi đun một hồi chờ bánh chín. Chiếc bánh khi chín lá vỏ màu
có xanh thẫm. Khi đặt lên bàn thờ thì nhớ lột dây buộc đi. Sắp một dĩa bánh ít
thì phải đủ và chỉ đúng sáu cái thôi.
Bánh ít dùng trước hết để thờ cúng tiên tổ trong những ngày lễ tết,
huý kỵ. Rồi trong những việc hiếu hỷ: đám cưới mời cô bác một chiếc mừng duyên
mới, ma chay ăn một miếng bánh ít phân ưu. Sau nữa bánh dùng làm quà cho người
đi xa, mang theo như để thể hiện tấm lòng thơm thảo của người nhà quê…
Ăn một chiếc bánh ít răng có cảm giác dẻo dẻo; lưỡi có vị bùi của
lá quết và vị ngọt của đường nhân; mũi ngửi được hương thơm của đậu đỗ xanh rắc
dầu chuối; tai lắng nghe những tiếng nhai “chắp…chắp…” có vẻ khoái khẩu thèm
thuồng; mắt nhìn chiếc bánh ít thì liên tưởng đến mái nhà, chợt nhớ tổ tiên qua
câu gợi ca dao“ngó lên nuộc lạt mái nhà/ bao nhiêu nuộc lạt nhớ ông bà bấy
nhiêu”.
Kính
thưa quý khách!
Ẩm thực
Quảng Trị có thể không quá nổi tiếng như nhiều trung tâm du lịch lớn, nhưng
chính sự giản dị ấy lại tạo nên dấu ấn riêng. Mỗi món ăn không chỉ để thưởng
thức mà còn kể câu chuyện về đất, về người, về hành trình vượt khó của vùng đất
miền Trung đầy nắng gió.
Hy vọng
trong hành trình hôm nay, quý khách sẽ dành thời gian thưởng thức và cảm nhận
trọn vẹn hương vị Quảng Trị – nơi mà mỗi món ăn đều chứa đựng một phần tâm hồn
của người dân địa phương.